Phương pháp Power English

Từ  Power ở đây vừa có nghĩa là sức mạnh, năng lực, vừa là tên gọi của một  phương pháp học tập ở bậc đại học do GS Robert Feldman (ĐH  Massachusetts) đề xướng nhằm hướng dẫn SV, đặc biệt là SV năm 1, cách  học tập có hiệu quả nhất.

Phương pháp Power bao gồm 5 yếu tố cơ bản:

1. Prepare (chuẩn bị sửa soạn):

Quá  trình học tập ở đại học không phải chỉ bắt đầu ở giảng đường khi SV  nghe thầy giáo giảng bài hoặc trao đổi, tranh luận với các bạn đồng học.  Quá trình này chỉ thật sự bắt đầu khi SV chuẩn bị một cách tích cực các  điều kiện cần thiết để tiếp cận môn học như: đọc trước giáo trình, tìm  tài liệu có liên quan. Sự chuẩn bị tư liệu này càng trở nên hiệu quả hơn  khi đi liền với nó là một sự chuẩn bị về mặt tâm thế để có thể tiếp cận  kiến thức một cách chủ động và sáng tạo. Với sự chuẩn bị tâm thế này,  SV có thể chủ động tự đặt trước cho mình một số câu hỏi liên quan đến  nội dung sẽ được đặt trên lớp, thậm chí có thể tự tạo cho mình một cái  “khung tri thức” để trên cơ sở đó có thể tiếp nhận bài học một cách có  hệ thống. Với cách chuẩn bị tích cực này, tri thức mà SV có được không  phải là một tri thức được truyền đạt một chiều từ phía người dạy mà còn  do chính SV tự tạo ra bằng cách chuẩn bị các điều kiện thực thể và tâm  thể thuận lợi cho sự tiếp nhận tri thức. Nói “học là quá trình hợp tác  giữa người dạy và người học” có nghĩa là như vậy.

2. Organize (tổ chức):

Sự  chuẩn bị nói trên sẽ được nâng cao hơn nữa khi SV bước vào giai đoạn  thứ hai, giai đoạn người SV biết tự tổ chức, sắp xếp quá trình học tập  của mình một cách có mục đích và hệ thống.

3. Work (làm việc):

Một  trong những sai lầm của việc học tập cũ là tách rời việc học tập ra  khỏi lao động trong khi lao động(làm việc) chính là một quá trình học  tập có hiệu quả nhất. Trong giai đoạn này SV phải biết cách làm việc một  cách có ý thức và có phương pháp ở trong lớp và trong phòng thí nghiệm,  thực hành. Các hình thưcs lao động trong môi trường đại học rất đa  dạng, phong phú: lắng nghe và ghi chép bài giảng, thuyết trình hoặc thảo  luận, truy cập thông tin, xử lí các dữ liệu, bài tập, thực tập các thí  nghiệm, tất cả đều đòi hỏi phải làm việc thật nghiêm túc, có hiệu quả.

4. Evaluate (đánh giá):

Ngoài  hệ thống đánh giá của nhà trường, SV còn phải biết tự đánh giá chính  bản thân mình cũng như sản phẩm do mình tạo ra trong quá trình học tập.  Chỉ có qua đánh giá một cách trung thực,SV mới biết mình đang đứng ở vị  trí, thứ bậc nào và cần phải làm thế nào để có thể cải thiện vị trí, thứ  bậc đó. Tự đánh giá cũng là một hình thức phản tỉnh để qua đó nâng cao  trình độ và ý thức học tập.

5. Rethink (suy nghĩ lại):

Khả  năng suy nghĩ lại này giúp SV luôn biết cách cải thiện điều kiện,  phương pháp và kết quả học tập của mình. Về bản chất, tư duy đại học  không phải là một thứ tư duy đơn tuyển, một chiều mà đó chính là hình  thức tư duy đa tuyển, phức hợp đòi hỏi người học, người dạy, người  nghiên cứu phải có tính sáng tạo cao, luôn biết cachs lạt ngược vấn đề  theo một cách khác, soi sáng vấn đề từ những khía cạnh chưa ai đề cập  đến. Khả năng suy nghĩ lại này cũng gắn liền với khả năng làm lại (redo)  và tái tạo quá trình học tập trên can bản nhận thức mới đối với vấn đề  và kết quả đã đặt ra.

Cuối  cùng, chữ R của giai đoạn thứ năm này cũng có nghĩa là Recreate (giải  lao, giải trí, tiêu khiển), một hoạt động cũng quan trọng không kém so  với các hoạt động học tập chính khóa. Ở đây cần nhớ rằng ai không biết  cách nghỉ ngơi, giải trí, tiêu khiển thì người đó cũng không biết cách  học tập hoặc học tập không có kết quả cao.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s